Google+ Followers

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

NGUỒN GỐC HAI CHỮ SINH THÌ



                               
                                                                                          Đinh Văn Tuấn

          Theo tình hình tài liệu hiện nay, hai chữ SINH THÌ  xuất  hiện sớm nhất  trong tác phẩm chữ Nôm là  Các Thánh Truyện (CTT) do Girolamo Majorica (1591 – 1656) biên soạn vào thế kỷ XVII, khoảng những năm 1634 đến 1646 [30]. Trong CTT, 2 chữ SINH THÌ được soạn giả ký âm bằng  chữ Hán là , chẳng hạn như:
“Có một ngày người còn đứng trên cột chắp tay lên như khi đứng mọi ngày liền sinh thì” (trang 48)
“Người nghe tin ấy liền mừng lắm, dọn mọi sự về mình cùng giã các bổn đạo mà đến ngày liền sinh thì chẳng sai” (trang 63)
“Từ Đức chúa Giê-Su ra đời cho đến ông thánh này sinh thì khỏi một nghìn sáu mươi sáu năm” (trang 108)
“Vậy người ở đây chịu đói khát, hôi hám và buồn sầu não, vì chẳng được làm lễ cùng giảng, liền phải liệt, đoạn sinh thì lên nơi chức cao cực trọng” (trang 131) [22]
“Bấy giờ người giục đánh mình hết sức, thì sau chảy hết máu người liền sinh thì.” (T.8, tr.64)
  “ Song le, đến cửa biển thì Đức Chúa Trời cho mẹ sinh thì mà vào cửa thiên đàng.” (T.8, tr.162) [20]
         Trong các văn bản chữ Quốc ngữ sơ kỳ do Alexandro de Rhodes biên soạn gồm bộ Tự điển Việt - Bồ - La [1] Dictionarivm Annnamiticvm Lvsitanvm et Latinvm  (VBL) và Phép giảng tám ngày [2] Cathechismus (PGTN) được xuất bản vào năm 1651, hai chữ SINH THÌ cũng đã được ghi nhận. Ở VBL, A. Rhodes giải thích: “SINH, LÊN: … Sinh thì, giờ lên… Đã sinh thì: Chúng tôi mượn cách nói của người Lương dân, để chỉ ý nghĩa sự chết của người Kitô hữu như đi lên với Thiên Chúa” (Hình 1) Ở PGTN, A. Rhodes viết: “Vì chưng kẻ lành mà thờ phượng Đức Chúa trời cho nên, khi sinh thì…” (Ngày thứ Hai)
“Nếu trẻ mọn nào phải sinh thì khi đã chịu phép rửa tội cho nên, thì được chịu vui vẻ đời đời” (Ngày thứ Ba)
“…mà năm ấy có lụt cả thì ông Mathusala mới sinh thì.”
“Các ông tổ nể đời xưa đã sinh thì”
“Sao người Annam mọi năm mọi có giữ ngày cha mẹ, ông bà, ông vải sinh thì, mà làm giỗ chạp hết sức?”
“Mà ta phải thảo kính cha mẹ khi đã sinh thì thể nào” (Ngày thứ Bốn)
“Ông Simon là người Thánh đã chịu lời Đức Chúa Spirtu Sancto chưa có sinh thì” (Ngày thứ Sáu)
“…cho nên người cũng đã hầu sinh thì”(Ngày thứ Bảy)
          Hai chữ SINH THÌ, đã được A. Rhodes trong VBL chú nghĩa: “Đã sinh thì: iam mortuus est” (đã chết) và  về sau các Tự vị Dictionarium Anamitico – Latinum [25] của Pigneau de  Béhain (1772-1773), Tự điển Dictionarium Latino-Anamiticum [13] của Jean Louis Taberd (1838), Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của [11] (1895-1896), Dictionnaire Annamite – Français [12] của J.F.M Génibrel  (1898) đều được giải thích là chết hay qua đời. Ý nghĩa  của 2 chữ SINH THÌ qua các văn bản Công Giáo diễn tả về  tình trạng hấp hối và chết được hưởng phúc trên Trời, Nguyễn Văn Trung (bđd) và Vũ Đức Nghiệu [31] đều cho rằng  từ sinh thì chỉ dành cho những nhân vật thật đáng kính trọng: Chúa, Đức Mẹ, các Thánh và những người sống chết cho  lý tưởng Công Giáo, còn đối với người thường, hay dùng từ lâm chung, chết, qua đời. Nhưng thật ra không hẳn như vậy vì ngay trong một văn bản của Majorica là  Ông Thánh Y Na Xu truyện [23]đã thấy viết: “Đức Chúa Giê su xưa chịu tội chịu chết vì thiên hạ”;“Mắng tiếng  ông Thanh Y Na Xu đã qua đời”;”Ông Thánh Y Na Xu…người nhớ đến ngày phải chết” và trong PGTN, Rhodes cũng từng viết: “Sao người Annam mọi năm mọi có giữ ngày cha mẹ, ông bà, ông vải sinh thì, mà làm giỗ chạp hết sức?; “Lo cho cha mẹ khi đã chết…lo cho cha mẹ khi đã sinh thì”; “Đức Chúa Jesu là chuộc tội cho người ta vì vậy chốc ấy thì phủ mình  chịu chết”;”Khi Đức Chúa Jesu trên cây Crux đã chịu chết”; “Ông Adam ở cùng bà ấy cho đến chết”, đã cho thấy vào thời kỳ đầu, các tác giả chưa thật sự phân biệt người trong đạo Công Giáo và ngoài Công giáo, ngay cả với các nhân vật trong Công Giáo có khi dùng SINH THÌ nhưng cũng có khi không (Chúa, Thánh) hay với bậc tổ tiên, cha mẹ (ngoài Công Giáo) lại dùng cả SINH THÌ lẫn chết.  Ngoài ra, đáng chú ý là trong bản chép tay Lịch sử Annam năm 1659 [4] của Bento Thiện thì SINH THÌ không hề được dùng đến dù là với bậc vua chúa tôn quý, tác giả chỉ viết thật giản dị, bình thường là “chết” như: “Vua Lê Hoàn…lên tật mà chết”; Lê Ngọa Triều…mà chết”. Chỉ về sau ta mới thấy các tác giả bắt đầu sử dụng SINH THÌ như một  biệt ngữ Công Giáo cổ kính, tôn quý dành riêng cho Chúa, Đức Mẹ, các Thánh và những tín hữu Công Giáo.
           Đặc biệt là về từ nguyên, chính  Rhodes là người đầu tiên đã giải thích rõ ràng qua chú thích trong VBL: “Chúng tôi mượn cách nói của người Lương dân, để chỉ ý nghĩa sự chết của người Kitô hữu như đi lên với Thiên Chúa”. Trong hầu hết các tài liệu cổ viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ cùng thời  hay kể cả sau  Rhodes  lại không thể tìm ra một chứng cứ nào để chứng minh  người ngoài Công giáo (Lương dân) đã  dùng đến 2 chữ SINH THÌ (qua đời, chết)! Mãi đến đầu thế kỷ XX, trong Việt Nam Tự Điển [7] do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo năm 1931, mới thấy ghi nhận SINH THỜI với nghĩa là lúc còn sống (của người đã khuất) và đồng nghĩa với SINH TIỀN, cách đọc “thời” thay cho “thì”là vì kiêng tên húy của Tự Đức là “Thì” đã cho biết SINH THỜI chỉ xuất hiện từ thời Tự Đức trở về sau  nhưng SINH THỜI (lúc còn sống) lại trái nghĩa với SINH THÌ (chết).  Học giả Hoàng Xuân Hãn đã từng chú giải về 2 chữ SINH THÌ trong thư của Bento Thiện như sau: “2/ Sinh tử: chết vì tôn giáo. Theo thuyết Da tô thì chết tức sống một cách vô tận ở cõi hồn, vì vậy đã dùng tiếng sinh để trỏ sự chết. Sinh thì nghĩa là chết” [6], nhưng thật ra, như A. de Rhodes đã xác nhận, sinh thì là “cách nói của người Lương dân” không phải là từ ngữ của đạo Công Giáo. Có lẽ người đầu tiên đã nỗ lực đi tìm nguồn gốc của 2 chữ SINH THÌ chính là  Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn qua bài viết vào năm 2001, Kỉ Niệm 350 Năm Tự Điển A. de Rhodes - Về Hai Chữ Sinh Thì, [21] tác giả  đã nêu ra giả thuyết khi cho  2 chữ SINH THÌ  vốn là THĂNG THÌ, vì  xưa  THĂNG đọc  là SINH theo luận chứng sau: “ có lẽ xưa đã có một sự vô tình nhầm lẫn nào đấy rồi sau sự nhầm lẫn ấy cứ truyền rộng mãi ra (…). Ở Hán Việt, chữ ảo vốn là chữ huyễn (hoãn, hoạn) đọc nhầm mà thành, vì có tự dạng gần gần như chữ ấu ! (…)  Ở Chữ Nôm cũng vậy: chữ mắng với nghĩa là “nghe” bị đọc nhầm thành mảng” và: “Theo Giáo sư Vương Lực cho biết, từ cuối Đường, đầu Tống thanh mẫu “thư” nhập một vào thanh mẫu “sinh” ; và đến thế kỉ 14 thì Trung nguyên âm vận cũng cho thấy 2 vận bộ  “canh”, “ chưng” đồng quy. Đây chính là lí do vì sao ở Bạch thoại ngày nay thăng đọc thành /sheng/ như sinh.”;  “ Các giáo sĩ thế kỉ 16, 17 trước khi đến Việt Nam truyền giáo thường phải kinh qua Trung quốc một thời gian. Rất có thể do thói quen đọc thăng thành /sheng/ như sinh học được ở Trung quốc, khi mới vào Việt Nam họ cũng đọc như vậy và đưa cách đọc đó vào các buổi giảng đạo, các tài liệu giảng đạo (…) Mà giáo dân thì luôn luôn có tâm lí rất tôn trọng các đấng bề trên, rất tuân thủ theo kinh bổn…”
          Giả thuyết của Gs Nguyễn Tài Cẩn  đã được Giáo sư Nguyễn Văn Trung phản hồi với bài viết Góp ý với Gs Nguyễn Tài Cẩn về 2 chữ [22], tác giả đã  phê bình, phản chứng bằng ý nghĩa của sinh thì qua ngữ cảnh  văn bản chữ Nôm và Quốc ngữ ở từng thời kỳ và khẳng định sự hợp tác giữa các nhà truyền giáo nước ngoài và người Việt (nhà Nho, nhà sư theo đạo Chúa uyên thâm chữ Hán), theo đó 2 chữ SINH THÌ là chính xác chứ không phải bắt nguồn từ sự lầm lẫn về cách đọc nhưng lại không đưa ra một giả thuyết nào khác hợp lý hơn về từ nguyên. Giả thuyết của Gs Nguyễn Tài Cẩn là một đóng góp quan trọng, rất có thể tiếp cận sự thật. Tuy nhiên như Gs Nguyễn Tài Cẩn đã từng  thận trọng nhận định: “Trong tình hình nghiên cứu hiện nay, thiết nghĩ có lẽ cũng chưa có thể có một câu trả lời thực sự dứt khoát được” (bđd). Do đó chúng tôi xin mạo muội góp phần tìm hiểu với một giả thuyết khác về nguồn gốc của SINH THÌ:
          Khi A. Rhodes cho sinh thì = giờ lên, là đã dựa vào âm đọc “sinh thì” hiểu như âm đọc Hán Việt và cho là 2 chữ Hán  (như Majorica đã viết) rồi dựa vào tự điển Hán để giảng nghĩa. Rhodes viết: “SINH, LÊN: lên, được nâng lên, mọc, sinh” . Thật vậy,  chữ  sinh theo Khang Hy tự điển [14] 康熙字典 dẫn Thuyết văn 說文: “進也” tiến dã: (tiến) tới, (tiến)  lên và dẫn Ngọc thiên 玉篇:“起也” khởi dã: dậy, cất mình lên còn  thì   nghĩa là giờ.  Theo sát mặt chữ thì đúng nghĩa Hán là “giờ lên” nhưng ngoài nghĩa “giờ lên”, điểm quan trọng nhất là  Rhodes còn cho SINH THÌ có một ý nghĩa khác đó là chết (Đã sinh thì: iam mortuus est: đã chết). Hóa ra, chính ý nghĩa SINH THÌ là “chết” theo quan niệm của Lương dân chứ không phải là “giờ lên” mới là mấu chốt vấn đề (xin nhấn mạnh). Giải đáp được bí ẩn mà A. de Rhodes trong VBL đã xác minh: “Chúng tôi mượn cách nói của người Lương dân, để chỉ ý nghĩa sự chết…” chính là tìm ra được nguồn gốc của 2 chữ SINH THÌ.  Trong văn bản chữ Nôm Việt sử diễn âm (VSDÂ, AB -110), theo nghiên cứu của Nguyễn Tá Nhí [8] thì: “đoán định bản diễn ca ra đời vào khoảng niên hiệu Cảnh Lịch (1548 – 1553) nhà Mạc” và chúng tôi đã đặc biệt chú ý đến từ SINH THIÊN (hình 2) đã  được sử dụng 7 lần trong bản diễn ca lịch sử này:
1/ Câu 177: “Già dư trăm tuổi sinh thiên lên trời” (Triệu Đà)
2/ Câu 465: “Già bốn mươi tuổi sinh thiên chẳng còn” (Ngô Quyền)
3/ Câu 841: “Hai mươi tư tuổi sinh thiên lên trời” (Lê Ngọa Triều)
4/ Câu 896: “Thuở ấy Đại Hành sinh thiên” (Lê Hoàn)
5/ Câu 1480: “Năm mươi dư tuổi sinh thiên lên trời” (Trần Nhân Tông)
6/ Câu 2054: “Thái Tông Hoàng Đế thuở này sinh thiên” (Lê Thái Tông)
7/ Câu 2300: “Hiến Tông Hoàng Đế thuở này sinh thiên” (Mạc Hiến Tông)
           SINH THIÊN trong các văn mạch trên được dùng để nói về vua chết thay cho các kiểu nói như băng (hà), thăng hà. SINH THIÊN chính là một thuật ngữ của Phật  giáo, theo Phật Quang đại từ điển  佛光大辭典 [24], SINH THIÊN  là được sinh (lên) ở cõi trời, tư tưởng này vốn không  phải là của Đạo Phật mà có nguồn gốc từ tín ngưỡng Ấn độ  thời cổ sau được du nhập vào Phật giáo. Hệ phái triết học Di Mạn Sai 彌曼差 cho sinh thiên (Phạm ngữ Abhyudaya: đi lên, thành công, phồn vinh) là được hưởng cực lạc, giải thoát  luân hồi. Kinh điển Phật giáo như kinh A Hàm nói rằng nhờ  kính lễ Phật tích, cha mẹ, sáu phương, tu tập Phạm hạnh, hành thiện, trì giới, cúng dường Sa môn  mà được sinh thiên ngoài ra các kinh  Bát Nhã, kinh Kim Quang Minh, kinh Lăng Già đều có thuyết về sinh thiên. Sinh thiên theo  từ điển Hán Điển trực tuyến [5]còn  có nghĩa là “升上天空”: lên trên trời. Có lẽ vì thế người Hán chắc đã dùng ý nghĩa này của để chuyển dịch ý niệm “Abhyudaya” của người Ấn. Theo Từ Nguyên [28], sinh thiên còn là một uyển ngôn (cách nói hoa mỹ, bóng bảy) để chỉ về tử vong.  Chính vì vậy tác giả VSDÂ đã mượn dùng sinh thiên (lên trên trời, chết) để nói về vua chúa qua đời một cách tôn kính. Do đó Sinh thiên trong VSDÂ không còn là thuật ngữ thuần túy của Phật giáo nữa.
         Trong thư tịch cổ ở Việt Nam, từ SINH THIÊN rất hiếm được dùng trong văn thơ Hán Nôm xưa, ngoài VSDÂ, chúng tôi chỉ tìm thấy SINH THIÊN trong  Văn tế thập loại chúng sinh (một tác phẩm văn học Phật Giáo) viết bằng chữ Nôm tương truyền là của Nguyễn Du, theo Học giả Hoàng Xuân Hãn viết trong Lễ Vu Lan với văn tế cô hồn [5] thì bản Nôm này được in trong sách Ứng phó dư biên do tăng Chính Đại khắc ván năm 1895, nguyên tên là Thỉnh cô hồn văn (thoại A). Hoàng Xuân Hãn đã chú thích về chữ siêu thiên ở thoại B (bản Nôm do cụ Lê Thước phát hiện) nơi câu: “Giúp cho làm của ăn đàng siêu thiên” như sau: “A: Sinh thiên (có lẽ đã sao lầm chữ ra chữ ”. Thật ra trong bản Nôm Thỉnh cô hồn văn [29], khắc in rõ 2 chữ sinh thiên siêu thăng khắc là , chữ thăng không viết là nhưng lại là và từ khó lầm thành được. Dễ dàng nhận thấy, thoại B và các thoại sau ra đời sau thoại A vì đã tự ý hiệu chỉnh 2 chữ sinh thiên của thoại A  thành siêu thiên hay thăng thiên. Chứng tỏ sinh thiên là một từ cổ, hiếm dùng.
        Về mặt ngữ nghĩa, SINH THIÊN (chết, được sinh (lên) cõi trời để hưởng cực lạc)  đúng là một khái niệm đồng nghĩa với SINH THÌ mà A. de Rhodes đã chú giải trong VBL. Nhưng điều khó hiểu là tại sao các giáo sĩ thừa sai lại không biết đến và dùng SINH THIÊN nhưng lại là SINH THÌ? Phải chăng có một sự lầm lẫn nào đó? Về mặt văn tự, 2 chữ thiên , thì thật khác nhau khó lòng bị viết lầm nhưng về mặt ngữ âm thì sao?  Chữ  thiên có âm Phổ Thông (Bắc Kinh)    /tiān/ và thì là /shí/ cũng quá khác biệt không thể  lẫn lộn. Trong  tự điển English – Chinese vocabulary of the Vernaculnar or spoken language of Swatow [33] của William Duffus (1883) đã ghi nhận: “Heaven, thiⁿ; Sky, thiⁿ” (Cõi trời; Bầu trời: âm thiⁿ), heaven, sky chính là nghĩa của chữ  thiên được người Triều Châu đọc là /thiⁿ/, vậy âm đọc này đã  phổ biến từ trước thế kỷ XIX. Tìm hiểu thêm thì thấy trong Triều Châu tự điển 潮州字典 [26], chữ (cõi trời, bầu trời) đúng là có âm đọc như thế:
       • Tiếng thủ phủ Triều Châu 府城音:thiⁿ
       • Huyện Hải Dương 海阳系:thiⁿ 
       • Huyện Lưu Hoàng 留隍:thiⁿ
       • Huyện Triều An 潮安:thiⁿ
       • Huyện Trừng Hải 澄海:thiⁿ
       • Huyện Sán Đầu 汕头:thiⁿ
       • Huyện Nhiêu Bình 饶平:thiⁿ
       • Huyện Kiết Dương 揭阳系:thiⁿ
       • Huyện Triều Dương 潮阳系:thiⁿ
       • Huyện Phổ Ninh 普宁:thiⁿ
        • Huyện Huệ Lai 惠来:thiⁿ
        • Huyện Lục Phong 陆丰:thiⁿ
         Như vậy, chữ người Triều Châu đọc là /thiⁿ/ (giọng mũi) nghe na ná như âm “thì” của tiếng Việt. Còn chữ âm Triều Châu  là /sêng1/ không khác biệt lắm so với âm đọc Phổ Thông /shēng/  hay âm Hán Việt sinh. Đối với người Triều Châu, 2 chữ sẽ đọc là /sêng1 thiⁿ/ nghe rất giống âm đọc của người Việt là “sinh thì”. Phải chăng nguồn gốc của âm đọc “sinh thì” chính là từ tiếng Triều Châu?
         Về phương diện lịch sử, sự giao tiếp giữa Trung Hoa và Đại Việt ở Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII đã có nhiều chứng cứ xác nhận. Li Tana  trong Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế - và xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 [15] đã viết: “…sau khi có lệnh  (nhà Minh) cho phép, vào năm 1567 tàu bè qua lại và buôn bán tại các nước Đông Nam Á, nhiều ghe mành của người Trung Hoa tới buôn bán ở vùng Nam Hải. Theo “Thuyền xa binh chế khảo”, một thập niên sau, tức năm 1577, 14 ghe mành chở đồng, sắt và đồ sành sứ từ Phúc Kiến tới Thuận Hóa để bán.” và Cristoforo Borri trong cuốn Tường thuật về Đàng Trong [3] đã ghi chép vào  năm 1618: “Chúa Đàng Trong xưa kia cho người Nhật, người Tàu chọn một địa điểm và nơi thuận tiện để lập một thành phố cho tiện việc buôn bán (…). Thành phố này gọi là Faifo (Hội An (…) một phố người Tàu và một phố người Nhật. Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng, và sống theo tập tục riêng”; trong Hành trình và truyền giáo của giáo sĩ Đắc Lộ [18], Rhodes cũng đã tường thuật: “Đầu năm 1641 tôi đi 1 vòng  tỉnh ở Quảng Nam…Đây là nơi buôn bán sầm uất của người Bồ, người Trung Hoa và người Nhật Bản”. Một nghiên cứu khác của Huỳnh Ngọc Đáng từ bài viết Về hai tên gọi Minh Hương và Thanh Hà [10] đã xác nhận: “…Những thương khách Trung Hoa sang Đàng Trong trong thời kỳ này đã ngụ cư trong những Đại Minh Khách Phố đó. Đại Minh Khách Phố ở Thuận Hóa có lẽ được thành lập sớm nhất và cũng sầm uất nhất… Trần Kinh Hòa căn cứ vào một lá đơn gửi cấp trên của Hương bộ địa phương (trong đó kể rằng sau khi Thượng vương dời phủ về Kim Long đã cho phép tiên hiền trong vùng kiến thiết một khu phố chợ đầu tiên) mà suy luận rằng có lẽ Đại Minh Khách Phố Thuận Hóa thành hình từ năm 1636, vài năm sau khi chúa Thượng dời phủ đến Kim Long. Người Hoa chắc chắn đã đến sinh sống làm ăn ở đó từ trước rất lâu mới tích lũy đủ khả năng tài chính để đến năm này xin phép xây cất phố chợ”. Như vậy trước khi các giáo sĩ truyền giáo nước ngoài đến  Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII để truyền đạo thì các thương nhân, di dân (thợ thủ công và cả nông dân) người Hoa sống ở các ven biển Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Ðông, Hải Nam do tình cảnh  xã hội hay chính trị bất ổn của nhà Minh nên đã  thường xuyên đến buôn bán, làm ăn, giao tiếp và cư ngụ ở Thuận Hóa, Hội An - Quảng Nam rồi. Được phép của Chúa Nguyễn họ lập  phố xá, rồi thành lập “Minh Hương xã” và nhập quốc tịch Đại Việt. Bên cạnh   làng Minh Hương  còn có tổ chức của các kiều cư  người Hoa do cư trú không ổn định hoặc nhiều lý do khác về thế lực kinh tế, chính trị họ đã không  nhập vào Minh Hương  nhưng đã tổ chức riêng trong “Dương Thương Hội Quán” (Trung Hoa Hội Quán). Sau này hình thành nên các Bang riêng gồm 5 Bang: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, Gia ứng. [16] Hội An cũng là một trung tâm Phật giáo lớn ở Đàng Trong. Đa số các chùa ở Hội An thuộc dòng Lâm Tế của Tịnh Độ Tông, từ Trung Hoa truyền sang vào thế kỷ XVII. Người Hoa sau khi nhập cư, sống ổn định tại Đại Việt họ đã xây dựng chùa, miếu và di tích sớm nhất hiện còn là vào khoảng trước 1653 như Chùa Bà (Quan Âm Phật Tự),  Chùa Ông: (Quan Công Miếu)[27]
           Chính trong bối cảnh như thế, nhà truyền giáo Girolamo Majorica vào năm 1623 từ Áo Môn đến Hội An, Đàng Trong, trong thời gian lưu trú ở đây, giáo sĩ đã học nói tiếng Việt và trở thành một trong những nhà truyền giáo thông thạo tiếng Việt, am tường chữ Nôm nhất lúc ấy. Vào thời kỳ này, G.Majorica đã lần đầu tiên sử dụng SINH THÌ trong  các tác phẩm chữ Nôm như  Các Thánh truyện. Biệt ngữ SINH THÌ này giáo sĩ Majorica đã học hỏi trực tiếp từ người Hoa hay người Việt? Theo suy luận  của chúng tôi, có lẽ giáo sĩ đã tiếp thụ từ  người Việt sống cộng cư với người Hoa Triều Châu ở Hội An ở thế kỷ XVII. Qua giao tiếp văn hóa, ngôn ngữ Triều – Việt,  người Việt đã tiếp thụ SINH THIÊN từ khẩu ngữ, theo giọng Triều Châu là /sêng1 thiⁿ/ nhưng  đã đọc theo giọng Việt là “sinh thì” rồi lâu dần gốc gác của 2 chữ SINH THIÊN đã bị quên lãng. Do vậy, Majorica đã viết ký âm 2 từ SINH THÌ bằng 2 chữ Hán là mà không hề biết nguyên gốc chính là SINH THIÊN . Có thể kể thêm một bằng chứng ngữ âm xác định sự giao tiếp tiếng  Triều  Châu và tiếng Việt ở Quảng Nam, Đàng Trong vào thế kỷ XVII đó là trong VBL, Rhodes từng ghi nhận từ QUA (nghĩa là tôi) được dùng phổ biến vào thế kỷ XVII, từ này thật ra có gốc tiếng Triều Châu vì chữ Hán ngã /wǒ/ (tôi) người Triều Châu lại phát âm là /ua2/, đọc theo giọng Việt là “qua” và nếu viết Nôm, thường dùng chữ qua mà không dùng ngã (Béhaine, Taberd, Huỳnh Tịnh Của).
         Sau G. Majorica, đặc ngữ SINH THÌ đã được A. de Rhodes  sử dụng trong VBL và PGTN rồi bắt đầu phổ biến với các văn bản như các thư tín của Igesico Văn Tín, Bento Thiện viết vào năm 1659 [4], Sấm Truyền Ca của Lữ Y Đoan (1670) [22] và cho đến các thế kỷ sau như trong Thánh giáo yếu lí quốc ngữ của Mgr d’ Adran (1782) [21], Sấm Truyền Cũ, Thuật Cùng Gẫm Truyện Thánh Tổ Tông (bản đầu tiên có thể vào cuối thế kỷ XVIII hay đầu thế kỷ XIX), Kinh Đọc Thường Ngày (Kinh Toàn Niên), Nam Kỳ Nhựt Trình (số 120 ngày 22 tháng 2 năm 1900) [22] và cho đến hiện nay 2 chữ SINH THÌ vẫn còn được người Ky tô hữu  của đạo Công Giáo đọc  trong Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu.

          Kể từ khi SINH THÌ xuất hiện lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XVII và đã được A. de Rhodes trong tự điển Việt – Bồ -La chú giải cũng như thừa nhận từ này thuộc về “Lương dân” cho đến nay vẫn chưa tìm ra chứng từ nơi người ngoài Công Giáo đã từng sử dụng SINH THÌ nhằm xác định nguồn gốc thật sự của biệt ngữ này. Theo tìm hiểu và phát hiện của chúng tôi, trong bối cảnh giao lưu Hoa – Việt ở Hội An, Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, rất có  khả năng SINH THÌ chính là một cách đọc Việt hóa giọng nói Triều Châu của  SINH THIÊN (vốn là thuật ngữ của Phật Giáo). Hy vọng rằng giả thuyết mới của chúng tôi về nguồn gốc của SINH THÌ sẽ góp phần làm sáng tỏ một bí ẩn của văn học, ngôn ngữ thế kỷ XVII.
                                                                           
                                                                                       Biên Hòa ngày 20 tháng 01 năm 2013



Tài liệu tham khảo
  1. Alexandro de Rhodes (1651), Dictionarivm Annnamiticvm Lvsitanvm et Latinvm, bản dịch  tiếng Việt của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính, Nxb Khoa học Xã hội, 1991.
  2. Alexandro de Rhodes (1651), Cathechismus (Phép giảng tám ngày), Tủ Sách Đại Kết tái bản theo bản Việt ngữ của Tinh Việt Văn Đoàn, 1993
  3. C. Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Hồng Nhuệ - Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị (dịch, chú thích), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh – 1998
  4. Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, NXB Ra khơi, Sài gòn 1972
  5. Hán Điển , nguồn: http://www.zdic.net/cd/ci/5/ZdicE7Zdic94Zdic9F148339.htm
  6. Hoàng Xuân Hãn, La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập III, Nxb Giáo Dục, 1998
  7. Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt Nam tự điển, Hà Nội, 1931, Mặc Lâm tái bản, 1968
  8. Hội Khoa học Lịch sử VN – Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Văn miếu Quốc tử giám, Việt sử diễn âm, Nguyễn Tá Nhí (Sưu tầm , chú thích, biên dịch), Nxb Văn Hóa Thông Tin, HN 1997
  9. Hồng Nhuệ, Nguyễn Khắc Xuyên (dịch và giới thiệu), Tự vị Annam -  Latinh (1772 – 1773), NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1999
  10. Huỳnh Ngọc Đáng, Về hai tên gọi Minh Hương và Thanh Hà, nguồn: http://www.xuquang.com/cms/index.php?option=com_content&task=view&id=857&Itemid=
  11. Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc âm tự vị, Tom I-II Sài Gòn 1895-1896, Nxb Trẻ, tái bản 1998.
  12. J.F.M Génibrel, Dictionnaire Annamite – Français, Deuxième édition, Tân Định, Saigon 1898, nguồn sách phổ biến từ books.google.com
  13. J.L.Taberd, Dictionarium Annamitico – Latinum, Nhà xuất bản Văn Học, 2004 (tái bản theo  bản in  năm 1838)
  14. Khang Hy tự điển 康熙字典, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã 1997
  15. Li Tana, Xứ Đàng Trong -  Lịch sử kinh tế xã hội Việt nam thế kỷ 17 và 18, Nxb Trẻ, 1999
  16. Nguyễn Chí Trung, Người Hoa trên hành trình nhập cư ở Hội An Nguồn: http://hoianheritage.net/index.php/vi/trao-doi-chuyen-nganh/trong-nuoc/NGUOI-HOA-TREN-HANH-TRINH-NHAP-CU-O-HOI-AN-69/
  17. Nguyễn Hữu Vinh, Ðặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê Văn Ðặng, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Uyên Thi, Tự điển chữ Nôm trích dẫn, Viện Việt Học ấn hành, 2009
  18. Nguyễn Khắc Xuyên (dịch), Hành trình và truyền giáo của giáo sĩ Đắc Lộ, nguồn:  http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailbook&id=85&ib=136
  19. Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Tự điển chữ Nôm, Nxb Giáo Dục, Hà Nội  2006
  20. Nguyễn Quốc Dũng, Ngôn ngữ trong “Truyện Các Thánh” của Majorica – Khía cạnh từ vựng và ngữ pháp. Luận văn Thạc sĩ ngữ văn, Đại Học Sư Phạm Huế 2009, nguồn: http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=612&ict=9218
  21. Nguyễn Tài Cẩn, Kỉ Niệm 350 Năm Tự Điển A. de Rhodes - Về Hai Chữ Sinh Thì, (Diễn Đàn số 110 (9/2001), nguồn: http://tieulun.hopto.org/download.php?file=VeHaiChuSinhThi
  22. Nguyễn Văn Trung, Dịch Thuật và Lý Luận Dịch Thuật. PHỤ LỤC III: GÓP Ý VỚI GS NGUYỄN TÀI CẨN VỀ HAI CHỮ (Diễn Đàn số 114, tháng 1/2002, nguồn: http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=297&ict=3242
  23. Ông Thánh Y Na Xu truyện, bản Nôm gốc sao chụp từ Thư viện Quốc gia Paris và bản phiên âm của Nguyễn Huy Hùng, do anh Nguyễn Vinh Quang cung cấp.
  24. Phật Quang đại từ điển  佛光大辭典, nguồn:  http://www.fgs.org.tw/fgs_book/fgs_drser.aspx
  25. P.J. Pigneaux, Dictionarium Anamitico - Latinum, (bản thảo viết tay) (1772-1773). Nguồn: bản pdf của NNT trong  Diễn đàn VVH (viethoc.com)
  26. Triều Châu tự điển 潮州字典, nguồn: http://www.mogher.com/%E5%A4%A9
  27. Trung tâm Quản lý Di tích và Danh thắng Quảng Nam, Đô thị cổ Hội An, nguồn: http://www.dtdtqnam.gov.vn/di-tich-danh-thang-quang-nam.aspx?name=100-do-thi-co-hoi-an
  28. Từ Nguyên 辭 源(Tu đính bản), Thương Vụ Ấn Thư Quán Xuất Bản, Bắc Kinh 1998
  29. Ứng phó dư biên tổng tập , Thành Thái thất niên nhuận nguyệt đính san, bản sao chụp do anh Nguyễn Vinh Quang cung cấp.
  30. Võ Long Tê, Lịch Sử Văn Học Công Giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Tư Duy, Saigon 1965

  31. Vũ Đức Nghiệu, Khảo sát các từ cổ trong ba văn bản viết bằng chữ quốc ngữ thế kỉ XVII. T/c Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 26, số 4/2010
  32. Vũ Văn Kính, Đại tự điển chữ Nôm, NXB Văn Nghệ, 1999
  33. William Duffus, English – Chinese vocabulary of the Vernaculnar or spoken language of Swatow , Swatow: English pressbyterian mision  press 1883, nguồn: http://archive.org/details/englishchinesev00duffgoog

(Đăng trên Tạp chí Ngôn Ngữ số 3/2014)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét