Tên chữ Hán của Hồ Quý Ly là 胡季犛 hay 胡季釐(厘)?
Đinh Văn Tuấn
Hồ
Quý Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tổ
tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang vào đời Hậu Hán thời Ngũ Đại (947 – 950) sang làm
Thái thú lộ Diễn Châu (Nghệ An). Sau đó, làm nhà ở hương Bào Đột thuộc lộ này,
làm trại chủ đến đời thứ 12 là Hồ Liêm
dời đến ở hương Đại Lại tỉnh Thanh Hóa, làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, từ đấy
lấy Lê làm họ mình. Quý Ly là cháu bốn đời của Lê Huấn. Sau Hồ Quý Ly thay ngôi
nhà Trần, đặt quốc hiệu là Đại Ngu và cải lại họ Hồ.[4] Theo Bùi Bá Kỳ viết
trong Cáo nạn biểu [12] đã cho biết
Quý Ly là con quan Kinh lược sứ đời Trần là Lê Quốc Kỳ [1]. Do
đó trong trong sử sách Hồ Quý Ly còn được gọi là Lê Quý Ly.


Ở văn bản chữ Nôm thì thấy, bản Nôm Chỉ Nam Ngọc âm
giải nghĩa [6] 指南玉音解義
(khoảng thế kỷ 17) tuy không trực tiếp liên
quan đến Hồ Quý Ly nhưng trong mục từ ly (mao)
ngưu thì chữ LY 犛 (H.3) khắc giống như dạng chữ ở ĐVSKTT nhưng thiếu
nét 厂, chắc
là do thợ khắc chữ sai sót (bản Nôm này khắc rất nhiều chữ Hán và Nôm sai) hoặc
do cách viết “tục tự” của nhà Nho Việt xưa. Tìm hiểu kỹ thì trong Đại Việt lịch đại sử tổng luận 大越歷代史總論 (NLVNPF-0104, R.1744, là bài tổng luận về lịch sử
Việt Nam từ khi khai thiên lập địa cho đến hết triều Lê, dĩ nhiên bản này chỉ
xuất hiện sau Lê)[7]
thì tất cả những chữ LY đều được người chép tay viết cả 2 dạng như ĐVSKTT và
CNNÂGN (H.4), thế thì đã rõ, chữ LY 犛 trong CNNÂGN đơn giản là một kiểu tục
tự (chữ thông tục trái với chính tự) của chữ
mà thôi. Ở bản Nôm Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca [8] 越史 衍 義 四 字 歌 thấy chữ LY viết
đúng dạng 犛.

Theo quan điểm chính
thống của vua quan các triều đại từ nhà Hậu Lê đến nhà Nguyễn, cũng như dư luận
dân gian thì Hồ Quý Ly bị lên án, phỉ nhổ,
gọi Hồ Quý Ly là “Hồ tặc”… bằng chứng rõ nhất là Nguyễn Trãi [11] đã viết về Hồ
Quý Ly và nhà Hồ như sau: “họ Hồ chính sự phiền hà. Để trong nước lòng
dân oán hận” (Đại
cáo bình Ngô), “họ Hồ thất đức”; “họ Hồ dối
trời gạt dân”; “cướp nước hiếp lòng dân” (Quân trung từ mệnh tập) và sử thần Ngô Sĩ
Liên phê phán Hồ Quý Ly là: “Bọn loạn
thần tặc tử…”, “ Quý Ly đến đây
tội ác đã chất đầy rồi” (ĐVSKTT). Trong sách Những chuyện lạ thi cử thời xưa [6],
có kể một chuyện lạ như sau, vào khoa thi Hội năm Canh Thân, niên hiệu Chính
Hòa thứ I (1680), có hai cặp thầy trò và cha con dự thi. Đó là Vũ Đình Phúc với
người con là Vũ Đình Thiều và học trò của ông Phúc là Phạm Hữu Dung nhưng trong
khoa thi Hội này, đầu văn sách có câu hỏi về nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly, thí
sinh phải tuân theo quan niệm chính thống của tầng lớp nho sĩ và xã hội đương
thời, khi viết tên Hồ Quý Ly, phải biết chọn chữ như thế nào, để biểu thị sự
khinh bỉ, chê bai nhân vật lịch sử này, theo đúng quan điểm của người ra đề.
Ông Thiều và ông Dung dùng chữ “ Ngưu” là “ Trâu” và khung cả bốn phía ngoài,
tượng trưng cho cái chuồng để tạo thành chữ “Ly”. Còn ông Phúc thì vẫn viết
đúng chữ Ly và cũng khung lại bên ngoài. Kết quả thật bất ngờ, đến kỳ xướng
danh hai ông Vũ Đình Thiều (1658-1727) và Phạm Hữu Dung (1652-?) đều đỗ tiến
sĩ. Còn thầy học Vũ Đình Phúc thị bị đánh hỏng, chỉ vì chữ “Ly” tên của nhân
vật lịch sử Hồ Quý Ly không viết là “Ngưu”, có nghĩa là “con trâu”! Như thế,
qua câu chuyện này ta thấy rõ việc viết tên của Hồ Quý Ly vào năm khoa thi Hội năm 1680 là một cách chơi
chữ nhằm khinh bỉ, chê bai. Chi tiết về chữ NGƯU 牛 (trâu) đã góp phần
lý giải cho sự xuất hiện phổ biến chữ 犛
(có chữ 牛) trong các sách sử từ ĐVSKTT (Chính Hòa thứ 18) và các
sách khác sau này. Theo suy luận của chúng tôi, rất có khả năng tên của vua nhà
Hồ thật ra nguyên gốc viết là LY 厘 hay 釐 (có chữ 里 chứ không phải là 牛)
và bản Nôm Thiên Nam ngữ Lục có thể đã dựa vào một nguồn thư tịch (trung thành
với chữ gốc thời Hồ) khác với ĐVSKTT để
phục nguyên lại tên chữ của Hồ Quý Ly. Tuy nhiên để xác minh lập luận này cần
phải có thêm chứng từ khách quan khác có giá trị thuyết phục. Người viết đã
truy tìm dấu vết tên của vua nhà Hồ trong thư tịch Trung Quốc và nhận thấy,
ngoài chữ LY 犛
(tên của vua nhà Hồ) xuất hiện phổ biến trong các sách quan
trọng như Minh sử, Bình An Nam chiếu, Bình định giao Nam lục,
Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư,…chúng tôi đã tìm thấy trong sách Đại
sử 岱史
[9] là sách địa phương chí của Tra Chí Long 查志隆 (biên soạn vào niên hiệu Vạn Lịch thứ
14, năm 1586), Nghiêu sơn đường ngoại kỷ 堯山堂外紀[9] là sách thông sử của Tưởng Nhất Quỳ蒋一葵 (đỗ Tiến sĩ năm Vạn Lịch thứ
25 (1594) đời Minh) và
Xích nhã 赤雅[10] là sách ghi chép về phong tục của dân
tộc Quảng Tây của Quảng Lộ 鄺露 (1602-1648, người Quảng Đông,
đời Minh), khi viết về vua nhà Hồ đã viết rõ ràng
là Lê Quý Ly 黎季釐(H.5), LY 釐chứ không phải là LY 犛. Không thể biết nguồn thông tin nào khiến cho Tra Chí Long, Tưởng Nhất
Quỳ và Quảng
Lộ đã viết tên của vua nhà Hồ khác với các sách vở chính thống của nhà Minh
nhưng chắc chắn
không thể lấy thông tin từ TNNL Có thể gián tiếp từ Lưỡng Quảng, biên giới Việt Nam và Trung Quốc họ đã tiếp cận được thông tin chân thật hơn về Hồ Quý Ly? Dù sao sự khác thường này cũng là một dấu chứng quan trọng (3 tác phẩm này ra đời vào đời Minh, khoảng thế kỷ 16, 17) xác nhận cho TNNL không phải là một hiện tượng “chữ tác đánh chữ tộ” hay là kiểu “đồng âm dị tự” tùy tiện và như thế tên vua nhà Hồ là LY 厘 hay 釐 có khả năng là một chữ nguyên gốc đời Hồ. Tra Khang Hy tự điển [2]: “犛: [廣韻]里之切, [集韻], [韻會] 陵之切,

Gần đây, nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức
Thọ, một chuyên gia nổi tiếng về chữ húy Việt Nam đã hầu như xác nhận chữ húy
vua nhà Hồ là LY, mặc dù ông chưa
thật sự công bố một chuyên khảo nghiên cứu khoa học nào trên sách, báo nhưng
qua các bài viết gửi trên mạng truyền thông internet, Ông Ngô Đức Thọ (NĐT) đã có
chủ ý như vậy khi viết như sau: “Sau khi xuất bản cuốn Nghiên cứu chữ huý Việt Nam... Sau đó, trong khi nghiên cứu niên
đại của sách Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa tôi đã phát hiện được chữ viết kiêng
huý tiểu tự (tên trước khi làm vua) của Hồ Hán Thương, Sau đó trong khi hoàn
thành bản thảo công trình nghiên cứu văn bản học tôi chọn việc giải mã niên đại
CNNÂ để thuyết minh phương pháp vận dụng tị huý học vào việc nghiên cứu văn bản
Hán Nôm, tôi đã đưa thêm cả phát hiện và khảo chứng về chữ Ly là tên huý của Hồ
Quý Ly nữa. Kể như hoàn chỉnh thêm được một chương về Chữ huý thời Hồ
chưa có trong cuốn sách đã công bố. “ (Bổ
sung nghiên cứu chữ húy thời Trần: Trinh貞&
Thiên 天)[11] Chữ huý của nhà Hồ mà tác giả nói, đó là chữ LY trong Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa qua mục từ ly (mao) ngưu, và Ngô Đức Thọ còn viết trong
Kẻ Chợ - Kattigara xa
xăm thân yêu [12] như sau: “9. … cả chữ kiêng huý Hồ Quý Ly cũng được
tìm thấy (Chỉ nam ngọc âm,
5b)” cùng với ghi chú trong bài viết (xem
hình).
Sự
thật có phải như NĐT đã xác nhận không? Mấu chốt quan trọng khiến cho Gs Ngô
Đức Thọ tin tưởng có chữ húy nhà Hồ chỉ là dựa vào hiện tượng chữ khắc in lạ
thường xuất hiện trong văn bản CNNÂGN với chữ LY 犛
khắc giống dạng chữ 
Hồ Quý Ly, người sáng lập ra một triều đại mới
là nhà Hồ, là vua của nước Đại Ngu, thế mà cái tên LY của ông, lại được các sử
gia Trung Quốc lẫn Việt Nam xưa kia đã viết bằng một chữ Hán có ý nghĩa tầm
thường, xấu liên quan loài trâu như chữ 犛!
Thân phụ Hồ Quý Ly là Lê Quốc Kỳ, vốn dòng
quan lại quý tộc, từng giữ chức Kinh lược sứ triều Trần, dĩ nhiên cũng là một
bậc túc Nho, không thể nào chọn một chữ LY 犛
như vậy để đặt tên cho con trai mình. Trong lịch sử, tên nhà vua có thể viết khác đi ở trường hợp như để
ngoại giao nhà vua có thể thay tên giả hoặc do lệnh kiêng húy tên vua, chứ
không thấy hiện tượng tùy tiện dùng chữ khác thay chữ gốc tên của vua, nhất là
lại dùng một chữ mang nghĩa xấu dễ dẫn đến họa sát thân vì phạm thượng. Rất
may, thư tịch còn để lại chứng cứ về một cách viết khác của tên vua nhà Hồ đó
là sách Đại sử, Nghiêu sơn đường ngoại kỷ,
Xích nhã (Trung Quốc) và Thiên Nam ngữ
lục (Việt Nam) với chữ LY viết là 釐 hay 厘. Đây
là một chữ mang nghĩa tốt đẹp hơn chữ 犛, vì vậy chúng tôi cho rằng chữ LY 釐 này mới đích thực là tên của Vua nhà Hồ, rồi sau do biến động của lịch sử, chữ 釐 đã xảy ra diễn biến
釐 -> 犛 thông qua một dụng ý văn tự của một
người hay tập thể nhằm thỏa mãn mục đích riêng.
Do đó, qua khảo chứng này, rất có thể người
viết đã phát hiện ra tên của vua nhà Hồ là LY, nguyên gốc viết chữ Hán là 釐 (厘) chứ không phải là chữ 犛 như trong thư tịch Hoa và Việt xưa
nay. Qua đó, vừa phục nguyên lại chữ viết
khai sinh họ tên của Hồ (Lê) Quý Ly là 胡 (黎)季釐 trong sử sách, gia phả họ Hồ từ
nay về sau và cũng là vừa khôi phục
lại danh dự, nhân cách của một nhân vật lịch sử nổi tiếng suốt bao thể kỷ qua, đã
chịu oan khuất trong bóng tối khi bị sỉ nhục bằng một lối chơi chữ đầy ác ý, thâm hiểm của người xưa mà không ai hay biết. Nhiều
khả năng tác giả của lối chơi chữ tinh ma để hạ nhục Hồ Quý Ly này chính là vua
quan nhà Minh trên quan điểm, thái độ về chính trị và tâm lý cao ngạo, khinh
miệt của nước thiên triều đối với nước phụ thuộc, qua chiêu bài “Phù Trần diệt
Hồ” mà thực chất là âm mưu xâm lược, thôn tính Việt Nam.
Biên Hòa ngày 24 tháng 3 năm 2012
Tài liệu tham khảo chính
- Đào Duy Anh, Giản Yếu Hán Việt từ điển,. NXB Tiếng Dân. Huế 1932
- Khang Hy tự điển , Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1997
- Ngô Đức Thọ. Chữ húy Việt Nam qua các triều đại,. NXB Văn Hóa 1997
- Nguyễn Danh Phiệt, Hồ Quý Ly, Viện Sử Học & NXB Văn Hóa – Thông Tin , Hà Nội 1997
- Nguyễn Thị Lâm (Phiên chú), Thiên Nam ngữ lục (thơ Nôm), NXB văn học, 2001
- Quốc Chấn, Những chuyện lạ thi cử thời xưa, NXB Thanh Hóa, 2006
- Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, NXB Đuốc Tuệ. Hà Nội 1942
- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (1919), Trung Tâm Học liệu tái bản 1971
- Tục tu tứ khố toàn thư, Sử bộ - Địa Lý loại. 3. Đại sử, Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã, 2002
- Viện Khoa Học Xã Hội, Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993
- Viện sử học, Nguyễn Trãi toàn tập. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1976
- Viện Văn học: Thơ Văn Lý - Trần, tập 111, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978
(Đăng trên Tạp
chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 7. 2012)
[2] Nguồn, http://www.archive.org/details/02079216.cn
[3] Nguồn, http://nomfoundation.org/nom-project/History-of-Greater-Vietnam
[5] Dự án số hóa kho
tàng thư tịch cổ Văn hiến Hán Nôm , website:
http://lib.nomfoundation.org/collection/1/
[6] Chỉ Nam ngọc âm
giải nghĩa, bản sao chụp từ bản ở Thư
viện Hội Châu Á, do anh Lê Sơn Thanh cung cấp.
[7] http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/114/
[8]Nguồn:http://www.trangnhahoaihuong.com/phpWebSite/index.php?module=documents&JAS_DocumentManager_op=viewDocument&JAS_Document_id=2&0f8ce0bda9980137be955eb2b8fc2927=6a87351d80bb974d2a18236dc864e2b7
[9] Nguồn, http://www.archive.org/details/02079216.cn
[11] Ngô Đức Thọ Blog:
http://vn.360plus.yahoo.com/ngoducthohannom/article?mid=357)
[12] Nguồn: www.viet-studies.info/NgoDucTho_KeCho.pdf
[13] Riêng về tên húy Hồ Hán Thương là HỎA 火, 踝 thì sau
khi đọc bài tham luận Thông tin mới nhất
về Chỉ Nam
ngọc âm cũng của Ngô Đức Thọ. (Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Hội nghị Quốc tế về
chữ Nôm Ngày 12-13 tháng 11 năm 2004),
người viết (bút danh là Đinh Tuấn) cùng với các thành viên (huongho,
Khúc Thần…) trong Diễn đàn Viện Việt Học :
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?11,32369, đã mở ra chủ đề: Chữ huý 踝 trong Chỉ Nam
Ngọc Âm ? để bàn thảo và xem xét khả
năng có chữ húy nhà Hồ trong CNNÂGN hay
không? Kết quả là không. Do khuôn khổ
bài viết, người viết không tiện đi sâu về tên húy của Hồ Hán Thương trong
CNNÂGN nên dự định sẽ viết một bài riêng về tên húy của Hồ Hán Thương.